OUTDOOR VIỆT NAM TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI: PHẦN 1 - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

I. THỰC TRẠNG OUTDOOR VIỆT NAM

 

1. “Sân chơi” outdoor còn trống trải

Trong nhận thức của đại đa số người dân Việt Nam, “outdoor” và “outdoor Việt Nam” vẫn còn là những khái niệm mới mẻ mặc dù từ rất lâu người tiêu dùng Việt Nam đã quen với một số các nhãn hiệu outdoor nước ngoài Columbia, Teva, Coleman, Vadue, Keen…, song đa phần các nhãn hiệu này khi vào Việt Nam được hiểu như là các nhãn hiệu thể thao hơn là outdoor. Bởi thế, theo đánh giá của chúng tôi, hiện đang có rất nhiều khoảng trống dành cho “outdoor Việt Nam” còn chưa được khai thác một cách đúng mức và hiệu quả.

 

2. Đặc điểm các ngành được coi là nền tảng cho Outdoor Việt Nam

Có một thực tế là, hiện nay, “outdoor” Việt Nam còn ít được bàn tới và thiếu định hướng phát triển. Ở đây, chúng tôi chủ đích hướng quan tâm tới một số lĩnh vực quan trọng, mà theo đánh giá chủ quan, có thể sẽ trở thành nền tảng để xây dựng ngành “outdoor” Việt Nam, đồng thời có những đánh giá về vai trò và vị thế của những khối ngành trọng điểm này trong nền kinh tế của đất nước. Các ngành cơ bản này bao gồm:dệt may và da giầy.

 

Hai nhóm ngành này tại Việt Nam có quy mô rất lớn và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.Dệt may Việt Nam đang chiếm vị trí thứ 2 thế giới về sản lượng xuất khẩu.Trong năm 2012, tổng giá trị của các sản phẩm dệt may đạt khoảng 15 tỷ USD, da giầy khoảng 8 tỷ USD, trong đó vali túi xách đạt khoảng 2 tỷ USD (Theo báo cáo của Hiệp hội dệt may-da giầy Việt Nam). Tổng giá trị xuất khẩu của 2 ngành hàng này hàng năm chiếm tới 20% GDP 100 tỷ USD của Việt Nam vàgóp phần quan trọng trong việc tạo cơ hội nghề nghiệp cho người lao động. Bởi vậy 2 nhóm ngành này luôn được coi là một trong những ngành kinh tế trọng điểm của đất nước.

 

- Giá trị thực

Cho dù quy mô của các nhóm ngành này tại Việt Nam là rất lớn, song hiệu quả thu được về giá trị của chúng trong hệ thống phân phối toàn cầu lại rất thấp. Điều này có thể được giải thích là, nền công nghiệp của chúng ta là nền công nghiệp gia công, được sản xuất theo đơn đặt hàng, sản phẩm đơn thuần ra đời dựa trên sức lao động giá rẻ mà thiếu đi trình độ tay nghề, khả năng sáng tạo, gu thẩm mỹ tinh tế, giá cả khó cạnh tranh được so với các mặt hàng tương tự của các nước khác,…

 

- Uy tín tiêu dùng thấp và giá trị thương hiệu chưa cao

Dệt may, da giầy là những ngành có mức tăng trưởng mạnh về số lượng và quy mô sản xuất hàng năm, song các thương hiệu nổi bật và có uy tín đáng kể tại thị trường nội địa lại khá ít ỏi. Thậm chí ngay cả với các thương hiệu mạnh về dệt may như Việt Tiến, May 10, An Phước…hay về da giầy như Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, Vina giầy… vốn được người Việt Nam ưa chuộng song không có khả năng cạnh tranh về kiểu dáng, màu sắc, mẫu mã với các sản phẩm ngoại nhập. Ở “sân chơi” toàn cầu, hầu như vắng bóng các thương hiệu này, có chăng chỉ là núp bóng dưới dạng nhà sản xuất cho một thương hiệu nổi tiếng khác trên thế giới với các mác “made in Vietnam”.

 

- Thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ

Đã có rất nhiều các chính sách vĩ mô và vi mô phục vụ cho các ngành này được ban hành, tuy nhiên thiếu việc hoạch định, xem xét, đánh giá về sự phối hợp giữa các ngành, nhóm ngành có cùng lợi thế, để từ đó có thể tương hỗ, gia tăng lợi thế của nhau, tạo ra chỗ đứng cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sáchđược coi là cổ vũ cho các ngành nghề phát triển theo chiều rộng cả về số lượng và quy mô và điều này sẽ gây khó dễ cho việc tận dụng triệt để các thế mạnh vốn có; chưa tạo ra được các rào cản cần thiết để ngăn chặn và làm giảm tốc độ xâm nhập của các thương hiệu ngoại vào thị trường nội địa. Và quan trọng hơn, các thương hiệu Việt Nam chưa có sẵn sàng và thiếu chủ động khi tham gia vào sân chơi mang tính cạnh tranh khốc liệt ở quy mô toàn cầu.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới nhận định các nhận định trên:

 

1. Trải qua một lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, Việt Nam gặp rất nhiều trở ngại trên con đường khôi phục và phát triển các ngành sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phục hưng đất nước, đảm bảo và đáp ứng các điều kiện thiết yếu của người dân về ăn, mặc, ở, đi lại... Cùng với nhiều lí do khác nữa mà sau chiến tranh, phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, trong đó có các ngành dệt may- da giầy được coi là lựa chọn phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước.

 

2. Trên thế giới, đặc biệt là tại châu Á, từ thập niên 70-80 nền công nghiệp với dây chuyền sản xuất đã có xu hướng dịch chuyển từ các khu vực có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản sang các khu vực có nền kinh tế kém phát triển hơn, như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,.. trong đó Việt Nam được coi là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất với nhân công dồi dào và chi phí rẻ.

 

3.  Về cơ bản Việt Nam đã lựa chọn con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa dựa trên một nền sản xuất gia công. Sự lựa chọn này nhằm đón các cơ hội và làn sóng đầu tư mới khi đất nước bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới. Đây thực sự là lựa chọn đúng nhưng chắc chắn chưa phải là sự lựa chọn tốt nhất cho chiến lược phát triển dài hạn của một quốc gia.

 

Vậy thực chất của sự lựa chọn này là gì? Có thể nói, đây là sự lựa chọn có lợi cho chúng ta,không đòi hỏi sự sáng tạo và trình độ tri thức cao mà vẫn có thể cho ra các sản phẩm tốt, vừa đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Tuy nhiên, nền kinh tế gia công cũng đã khiến chúng ta trả cái giá khá đắt: mất tính kiểm soát đối với các giá trị của sản phẩm mang tính toàn cầu, khả năng sáng tạo bị thui chột, không có khả năng vận động để tìm kiếm một giải pháp mới để tạo ra những hiệu quả mang tính đột phá,… Hậu quả là, chúng ta đã tạo ra một nhóm ngành có quy mô nhất nhì thế giới song giá trị thực tế lại rất nhỏ bé, tạo ra những khoảng trống rất lớn trong cơ cấu kinh tế, không xây dựng được hình ảnh, thương hiệu mang tầm vóc quốc gia.

 

4. Sự liên kết giữa các ngành của chúng ta rất yếu. Các sản phẩm, thương hiệu đã không được đặt trong một bài toán tổng thể của một ngành, của nhóm các lĩnh vực được coi là lợi thế Quốc gia để so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này khiến cho các hoạt động thị trường của chúng ta trở lên rời rạc, đơn lẻ, không tận dụng được một cách hiệu quả sức mạnh của liên kết. Hơn nữa, tự bản thân mỗi sản phẩm, mỗi thương hiệu trong nước thật khó khăn trong việc tìm kiếm chỗ đứng tại thị trường nội địa, càng không có khả năng dẫn dắt thị trường….

 

 

(Còn tiếp)

 Góc nhìn Kenpas